IFRS không phải là cây đũa thần – Phần 1.

Nhiều người đang rất phấn khích về việc IFRS sẽ sớm được triển khai và áp dụng ở Việt Nam. Nâng cao chất lượng báo cáo tài chính, nâng cao tính minh bạch, bảo vệ môi trường kinh doanh, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, góp phần thúc đẩy hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới – đó là kỳ vọng về những điều mà IFRS có thể mang lại. Tất nhiên, với thực tế Việt Nam là một trong số ít những quốc gia trên thế giới chưa áp dụng IFRS, khi mà sự khác biệt giữa VAS và IFRS ngày càng trở nên quá lớn, việc áp dụng IFRS xứng đáng được kỳ vọng sẽ là một nhân tố thay đổi, tác động tích cực đến sức khỏe tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam.

Tuy nhiên, IFRS không phải là cây đũa thần, không thể thay đổi ngay lập tức tình hình hay chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Lý do thứ nhất, sự khác biệt trong tư duy và cách suy nghĩ của kế toán Việt Nam với yêu cầu của IFRS. Hiện tại, kế toán Việt Nam đang áp dụng Thông tư 200/2014 theo rule-based, tức là quy định chi tiết các bút toán cần được ghi nhận với từng nghiệp vụ. Trong khi đó, IFRS là principle-based, bao gồm nhiều principles hướng dẫn cách ghi nhận tài khoản, khoản mục. Dựa theo những principles đó mà từng doanh nghiệp sẽ có chính sách, lựa chọn kế toán khác nhau, phù hợp với thực tế hoạt động. Để làm được điều đó, người làm công tác kế toán cần áp dụng professional judgement rất nhiều, nhất là với những mục yêu cầu ước tính cao, như impairment, fair value measurement, provision, etc. Do đó, kế toán sẽ phải tư duy nhiều hơn, phân tích nhiều hơn.

Lý do thứ hai, sự ưu tiên quá mức của kế toán Việt Nam cho mục đích thuế. Ở Việt Nam, nhiều kế toán ghi nhận nghiệp vụ, con số trên sổ hay ước tính kế toán, với mục đích chính là để tuân thủ theo quy định của cơ quan thuế. Không thiếu trường hợp công ty, nhất là công ty vừa và nhỏ, có 2 hệ thống sổ sách kế toán – một cho mục đích thuế, và một cho mục đích sử dụng nội bộ. Trong khi đó, IFRS không hề có hướng dẫn nào về việc này. IFRS tập trung hoàn toàn cho báo cáo tài chính vì mục đích kế toán, thể hiện trung thực và hợp lý tình hình tài chính của doanh nghiệp. Rõ ràng, mục đích khác nhau, cách áp dụng cũng sẽ khác nhau. Và, như một điều tất yếu, hiệu quả áp dụng sẽ không thể tối ưu như kỳ vọng.

Lý do thứ ba, yêu cầu về trình độ của người làm công tác kế toán. Sự khác biệt quá lớn giữa VAS và IFRS là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. IFRS có những quy định, chuẩn mực mà VAS hay hệ thống kế toán Việt Nam không có, như impairment, fair value, Revenue from contracts with customers, leases. Thậm chí, với những khoản mục có vẻ đơn giản như PPE hay trade receivables, để áp dụng theo đúng IFRS, cũng không phải là điều dễ dàng. Do đó, người làm kế toán cần cập nhật và làm thật nhiều để có thể hiểu đúng về yêu cầu của IFRS. Đây là một thách thức không nhỏ. Ngay cả với những quốc gia đã áp dụng IFRS từ lâu, các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn khi áp dụng các chuẩn mực IFRS vào công ty mình.

Tất nhiên, áp dụng IFRS ở Việt Nam là một tín hiệu đáng mừng, vì cuối cùng, các doanh nghiệp Việt Nam có thể dùng chung ngôn ngữ với thế giới trong việc báo cáo tình hình tài chính của mình. Nhưng, không thể kỳ vọng vào một bước nhảy vọt ngay lập tức. Sẽ có những khó khăn, những bỡ ngỡ lúc đầu. Hy vọng rằng, sau khi vượt qua, IFRS sẽ thực sự nâng tầm doanh nghiệp Việt.